Trong quá trình chăm sóc người thân trong gia đình, nhiều người sẽ tự hỏi chế độ dinh dưỡng dành cho bệnh nhân ung thư như thế nào? Bệnh nhân ung thư nên ăn gì? Cần chú ý những gì khi chăm sóc bệnh nhân ung thư? Cùng IIMS-VNM tìm hiểu với bài viết dưới đây. Hi vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích giúp bạn hoặc người thân của bạn có thêm sức khỏe để chống chọi, vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Dinh dưỡng là việc cung cấp các chất cần thiết theo dạng thức ăn cho các tế bào để cơ thể có thể duy trì sự sống và phát triển. Dinh dưỡng bao gồm các hoạt động như ăn, uống, hấp thu, chuyển hóa và bài tiết chất thải. Dinh dưỡng học là một ngành khoa học chuyên về các chất dinh dưỡng, thực phẩm và mối liên hệ với sức khỏe, sinh trưởng, sinh sản và bệnh tật của cơ thể con người nói riêng và các loài sinh vật nói chung.
Dinh dưỡng và sức khỏe có một mối quan hệ mật thiết. Có một chế độ dinh dưỡng tốt sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh. Ăn đúng loại thực phẩm phù hợp với từng giai đoạn trước, trong và sau điều trị ung thư phần nào sẽ khiến bệnh nhân cảm thấy khỏe khoắn, thoái mái hơn. Chế độ dinh dưỡng lành mạnh bao gồm việc ăn và uống đủ các chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cơ thể như các loại vitamin, chất khoáng, protein, carbohydrates, chất béo và nước.
Để thực hiện một số phương pháp điều trị ung thư như liệu pháp hormone, phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị, ghép tế bào gốc, người bệnh phải có sức khỏe đạt yêu cầu nhất định. Bởi sau khi thực hiện các kĩ thuật này, hệ thống miễn dịch của bệnh nhân cũng có khả năng suy giảm, các tế bào lành có nguy cơ bị tổn thương, cơ thể sẽ suy nhược. Đặc biệt, khi các bộ phận như đầu, cổ, thực quản, dạ dày, ruột, tuyến tụy, gan bị ảnh hưởng bởi quá trình điều trị ung thư, cơ thể khó có thể hấp thụ được đủ chất dinh dưỡng để khỏe mạnh. Chính vì vậy, liệu pháp dinh dưỡng được đưa ra nhằm giúp bệnh nhân duy trì được trọng lượng cơ thể, duy trì sức khỏe, giữ cho các mô cơ thể khỏe mạnh và giảm thiểu tác dụng phụ cả trong và sau khi điều trị.
Ung thư và các phương pháp điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến vị giác, khứu giác, khẩu vị, khả năng ăn uống cũng như khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng. Điều này dễ dẫn đến suy dinh dưỡng (tình trạng cơ thể bị thiếu hụt những dưỡng chất quan trọng). Việc lạm dụng đồ uống có cồn hoặc béo phì có thể gia tăng khả năng suy dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng có thể khiến bệnh nhân suy nhược, mệt mỏi, không còn khả năng chống lại nhiễm trùng hoặc tiếp tục điều trị dứt điểm bệnh ung thư. Tình trạng suy dinh dưỡng có thể tồi tệ hơn nếu ung thư phát triển hoặc lan rộng.
Ăn đủ protein và calo là yếu tố quan trọng giúp cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể và chống lại sự nhiễm trùng
Chán ăn là tình trạng không muốn ăn. Đây là triệu chứng phổ biến của các bệnh nhân ung thư. Tình trạng này có thể xảy ra vào giai đoạn sớm hoặc giai đoạn ung thư phát triển hay lan rộng. Nhiều bệnh nhân đã có triệu chứng này khi họ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư và đa phần bệnh nhân ung thư tiến triển đều bị chán ăn. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư.
Suy mòn là tình trạng cơ thể bị suy nhược nghiêm trọng, sụt cân, giảm mỡ và cơ. Tình trạng này phổ biến với các bệnh nhân có khối u ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Suy mòn cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân có thể ăn tốt nhưng không có khả năng tích trữ mỡ và cơ do khối u phát triển.
Một số khối u (đặc biệt là bởi những khối u trong dạ dày, ruột, đầu và cổ) có thể tác động tới khả năng hấp thụ một số chất dinh dưỡng nhất định của cơ thể như protein, carbohydrats và chất béo. Bệnh nhân có thể ăn uống đầy đủ nhưng cơ thể không hấp thụ được hết các chất dinh dưỡng từ thức ăn.
Bệnh nhân ung thư có thể chán ăn và suy mòn cùng một thời điểm.
Hóa trị ảnh hưởng tới các tế bào trên toàn bộ cơ thể. Hóa trị sử dụng các loại thuốc để chế ngự sự phát triển của tế bào ung thư, bằng cách tiêu diệt hoặc ngăn cản sự phân chia tế bào. Các tế bào khỏe mạnh bình thường phát triển và phân chia nhanh cũng sẽ bị tiêu diệt, bao gồm cả các tế bào trong khoang miệng và đường tiêu hóa.
Liệu pháp Hormone bổ sung, ngăn chặn hoặc loại bỏ các loại hormone. Việc này có thể làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của một số loại ung thư. Trong đó, một số loại của liệu pháp hormone có thể gây nên tình trạng tăng cân.
Tác dụng phụ do hóa trị có thể dẫn đến một số vấn đề về ăn uống và tiêu hóa. Khi sử dụng nhiều loại thuốc hóa trị, mỗi loại thuốc lại có những tác dụng phụ khác nhau hoặc khi các loại thuốc cùng tác dụng phụ thì tác dụng phụ có thể sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn.
Những tác dụng phụ phổ biến
Bệnh nhân áp dụng liệu pháp Hormone có thể cần thay đổi chế độ ăn uống để hạn chế việc tăng cân.
Xạ trị tiêu diệt cả tế bào ung thư và cả những tế bào khỏe mạnh nằm trong vùng chiếu xạ. Mức độ nghiêm trọng của tác dụng phụ phụ thuộc vào những yếu tố sau:
Xạ trị trên bất cứ bộ phận nào trong hệ tiêu hóa đều gây nên tác dụng phụ liên quan tới vấn đề dinh dưỡng. Hầu hết những tác dụng phụ này sẽ bắt đầu trong 2 tới 3 tuần sau khi bắt đầu chiếu xạ và sẽ biến mất sau vài tuần sau khi kết thúc trị liệu. Một vài tác dụng phụ có thể kéo dài tới vài tháng hoặc vài năm sau đợt trị liệu.
Dưới đây là một vài tác dụng phụ phổ biến:
Xạ trị não hoặc khu vực đầu, cổ | Xạ trị vùng ngực | Xạ trị vùng bụng, xương chậu hoặc trực tràng |
|
|
|
Xạ trị cũng có thể gây mệt mỏi, dẫn đến chán ăn.
Sau phẫu thuật, cơ thể lúc này cần thêm nhiều năng lượng và dinh dưỡng để chữa lành vết thương, giảm nhiễm trùng và giúp nhanh chóng hồi phục. Nếu bệnh nhân bị suy dinh dưỡng trước khi phẫu thuật có thể dẫn đến nhiều vấn đề như vết thương khó lành hoặc nhiễm trùng. Vì vậy, đối với những bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật, cần quan tâm đến chế độ dinh dưỡng đầy đủ trước khi thực hiện.
Đa số các bệnh nhân ung thư đều được can thiệp phẫu thuật. Phẫu thuật loại bỏ toàn bộ hoặc một phần cơ quan nhất định có thể ảnh hưởng đến khả năng ăn uống và tiêu hóa của người bệnh.
Những vấn đề có thể gặp phải sau phẫu thuật:
Tác dụng phụ của các liệu pháp miễn dịch là khác nhau, phụ thuộc vào từng chế phẩm và từng cơ địa của bệnh nhân. Những tác dụng phụ hay gặp của liệu pháp này như sau:
Hóa trị, xạ trị, và các loại thuốc khác sử dụng trước hoặc trong quá trình cấy ghép tế bào gốc có thể gây nên những tác dụng phụ khiến bệnh nhân không thể ăn, uống hay tiêu hóa thức ăn như bình thường.
Tác dụng phụ phổ biến:
Bệnh nhân thực hiện ghép tế bào gốc có nguy cơ cao bị nhiễm trùng. Phương pháp hóa trị và xạ trị trước đó làm giảm số lượng lớn tế bào bạch cầu (chống nhiễm trùng). Do vậy, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cần nắm rõ được các thực phẩm an toàn và thực phẩm nên tránh để giảm nguy cơ nhiễm trùng xảy ra.
Sau khi cấy ghép tế bào, bệnh nhân có nguy cơ mắc “graft-versus-host-disease” (GVHD), tạm dịch là bệnh mảnh ghép chống chủ. GVHD có thể ảnh hưởng đến đường tiêu hóa hoặc gan và thay đổi khả năng ăn hoặc hấp thụ chất dinh dưỡng.
Khi xảy ra các tác dụng phụ của ung thư và các phương pháp trị liệu ảnh hưởng đến việc ăn uống, chế độ dinh dưỡng cần được điều chỉnh để giúp bệnh nhân có thể nạp được đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho cơ thể. Dưới đây là một vài gợi ý, hướng dẫn về dinh dưỡng giúp người bệnh giảm thiểu được các triệu chứng, đau đớn do ung thư hay tác dụng phụ gây ra:
Những gợi ý dưới đây có thể giúp bệnh nhân giảm thiểu hội chứng buồn nôn:
Trong trường hợp bệnh nhân tăng cân vì liệu pháp hormone, có thể áp dụng chế độ ăn uống sau để duy trì cân nặng:
Thông tin tham khảo: National Cancer Institute
Liên hệ IIMS-VNM để được tư vấn, khám và điều trị bởi các chuyên gia quốc tế tại các cơ sở y tế trực thuộc Tập đoàn IMS – một trong những Tập đoàn y tế hàng đầu Nhật Bản.